Sự Dấy Lên Và Sụp Đổ Của Thế Gian - Phần 1
Sự Dấy Lên Và Sụp Đổ Của Thế Gian Phần 1
Nầy,
tôi có thể nói rằng tấm lòng của bạn được phước và ấm áp tối nay bởi mối thông
công mà chúng ta đã chia sẻ và thưởng thức. Bao lâu tôi đến với nhà thờ Tin
lành hết Chúa nhật nầy tới Chúa nhật khác, thực vậy, ngày này qua ngày khác,
tôi đến để học hỏi. Nhiều năm trôi qua và tôi không bao giờ thấy mệt mỏi khi gần
gũi với niềm vui phước hạnh lớn lao trong mối giao thông với dân sự Đức Chúa Trời,
ca ngợi Ngài và học hỏi lời của Ngài.
Đặc
biệt là tôi rất vui mừng trong phần học hỏi của chúng ta tối nay – hãy cùng tôi
mở ra ở Đaniên 2. Vì phần học hỏi của chúng ta tối nay, chúng ta muốn khởi sự nhìn
vào tiểu đoạn từ câu 41 đến 49. Phân nửa thứ hai của chương 2. Chúng ta đã trải
đi từ câu 1 đến câu 30 lần vừa qua. Tối nay, chúng ta sẽ đến với phân nửa thứ
nhì, tôi không biết là chúng ta có đi hết hay không!?! Nhưng tôi biết rằng Đức
Chúa Trời có một số điều lớn lao để nói với chúng ta trong phần thứ hai này bắt
đầu ở câu 31.
Trước
khi chúng ta bước vào phân đoạn Kinh thánh mà chúng ta sẽ đặc biệt quan tâm đến,
cho phép tôi nói đôi chút về phần giới thiệu. Hết thảy chúng ta đều chăm xem một
cách buồn bã - chúng ta là những người nhận biết Đấng Christ - sự sụp đổ của
Hoa Kỳ. Đúng là buồn thật, điều đó chẳng thực sự gây sốc cho chúng ta. Lý do là
vì luôn luôn đã và sẽ là rất nhiều nước, nhiều dân trên thế giới, các vương quốc
của loài người sẽ đi theo con đường của mọi xác thịt và cuối cùng kết thúc
trong sự sụp đổ và hủy hoại.
Bất
cứ điều gì dựa trên sức mạnh của con người, bất cứ điều gì được thiết lập trên
sự khôn ngoan của con người sẽ phải gánh chịu cùng một loại suy thoái mà chính
bản thân con người phải chịu kể từ cuộc Sa Ngã. Suy thoái là lịch sử của con
người. Đó là tiến trình suy thoái chứ không phải là một tiến trình tiến hóa.
Con người không lên cao, con người đang xuống thấp. Trong II Timôthê 3:13, Đức
Chúa Trời phán: "Nhưng những người hung ác, kẻ giả mạo thì càng
chìm đắm luôn trong điều dữ”. Mọi sự không trở nên tốt
hơn, chúng ngày càng tệ hại hơn.
Chúng
ta thấy sự suy thoái đang vận hành trong xã hội của chúng ta ở khắp mọi nơi -
trên toàn quốc, trong xã hội, trong nội địa, từng cá nhân, từng việc một. Mọi sự
trong thế gian này đều bị kẹt trong một tiến trình suy thoái khởi sự khi con
người sa ngã ở trong Vườn. Và từng kết hợp mới của các thế lực hoặc các nước đã
cố gắng hầu đạt được một vương quốc lâu dài luôn gặp phải sự lật đổ không thể
tránh khỏi. Vô luận biện pháp bảo vệ là gì đi nữa, việc giải thể các nỗ lực do
con người tạo nên nằm trong chỗ không thể tránh khỏi.
Như
vậy, khi lịch sử được nghiên cứu cho thấy một loạt những sự thất bại. Một
đế quốc bắt đầu, lên tới đỉnh điểm, rồi phai tàn, lịm dần, và một đế quốc khác
được xây dựng trên tro bụi của đế quốc kia. Chúng ta đang nhìn vào nước Mỹ. Nước
Mỹ trong quá khứ đã đạt tới đỉnh điểm của nó. Chúng ta đang ở chỗ tuột dốc trở
lại. Chúng ta đang nhìn thấy thất bại đang diễn ra. Chúng ta nhìn thấy sự suy
thoái của xứ sở chúng ta trên mọi mặt. Chủ nghĩa nhân đạo chính trị đang làm cho
chính phủ phải điêu đứng. Một chính phủ từng được thiết lập trên các nguyên tắc
nơi Lời của Đức Chúa Trời. Chủ nghĩa vô thần bất kỉnh thống trị nền giáo dục của
chúng ta. Tình trạng đe doạ tống tiền kiểu quốc tế đe doạ chúng ta trên khắp thế
giới. Một sự thiếu tin quyết và thiếu can đảm làm thay đổi cách chúng ta tiếp cận
với các nan đề.
Việc
phá diệt gia đình đang gây ra mất định hướng giữa vòng mọi người và sự dấy lên
nhiều nan đề về tâm lý và tâm thần. Sự huỷ hoại gia đình góp phần bởi tình trạng
phi đạo đức, sống chung với nhau mà không cần hôn nhân, đang tác động lên nữ giới,
giải phóng phụ nữ, những người cha thụ động, đồng tính luyến ái v.v… Chúng ta
đã chứng kiến sự suy thoái trong giới cầm quyền tới điểm mà ở đó trong nhiều
trường hợp không thấy sự hiện diện của nhà cầm quyền.
Trong
các bộ phận của xã hội chúng ta đã mất khả năng kiểm soát hành vi. Có sự dấy
lên ngày càng tăng của tội ác, công lý hình sự lỏng lẻo. Chúng ta liên tục đồi
bại ở tốc độ nhanh hơn thông qua chủ nghĩa duy vật, rượu chè, ma túy, tình dục,
thái độ ích kỷ hoàn toàn. Và chúng ta có thể ghi thêm nhiều thứ nữa.
Chúng
ta đang suy thoái giống như mọi quốc gia khác từng suy thoái. Bởi vì xây dựng thành
nước Mỹ là cùng một vấn đề cơ bản. Chúng ta có đôi chân đất sét giống như bức tượng
trong sách Đaniên. Và đất sét nói rằng Đaniên tiêu biểu cho dòng dõi của con người.
Và bất cứ đâu bất cứ điều gì xây dựng trên con người, nó được xây dựng để bị
suy thoái.
Fred
Barshag đã cho tôi một bài báo rất thú vị trong tuần này và tôi muốn chia sẻ bài
báo đó với bạn. Nó trình bày sự việc sau đây đã được viết ra bởi Giáo sư
Alexander Tyler gần 200 năm trước, trong khi 13 thuộc địa ban đầu của chúng ta
vẫn còn là một phần của nước Anh. Thực vậy, Tyler đang viết về sự sụp đổ của Cộng
hòa Athena vào 2.000 năm trước. Đây là những gì ông nói:
"Một nền dân chủ không thể tồn tại
như là một hình thức thường trực của nhà cầm quyền. Nó chỉ có thể tồn tại cho đến
khi các cử tri phát hiện ra rằng họ có thể tự bỏ tiền vào từ kho bạc nhà nước.
Rồi từ giờ phút ấy trở đi, đa số luôn bỏ phiếu cho những ứng cử viên hứa hẹn
nhiều lợi ích nhất từ kho bạc nhà nước với kết quả một nền dân chủ luôn luôn đổ
nát do chính sách tài khóa lỏng lẻo luôn theo sau bởi chế độ độc tài.
Tyler nói: "Tuổi trung bình của
nền văn minh lỗi lạc nhất của thế gian là 200 năm". Đối với chúng ta, đó
là năm 1976. "Các nước này đã tiến triển theo các trình tự sau: - bây giờ
hãy nghe đây – “từ nô lệ đến đức tin thuộc linh, từ đức tin thuộc linh đến sự
can đảm lớn lao, từ can đảm đến tự do, từ tự do đến dư thừa, từ dư thừa đến ích
kỷ, từ ích kỷ đến tự mãn, từ tự mãn đến thờ ơ, từ sự thờ ơ đến sự lệ thuộc và từ
sự lệ thuộc trở lại với tình trạng nô lệ".
Mọi
nước đều chạy theo cùng một chu kỳ. Và chế độ dân chủ dường như tuân thủ chu kỳ
đó nhanh chóng hoặc trong một số trường hợp nhanh hơn bất kỳ hình thức cầm quyền
nào khác. Đồng thời, có thể bạn sẽ bị sốc khi biết rằng dân chủ không phải là
hình thức cầm quyền của Đức Chúa Trời. Hình thức của Đức Chúa Trời là chế độ thần
quyền, chỗ mà một thân vị đang cai trị, và thân vị đó là Đức Chúa Trời.
Thế
giới ngày nay chỉ đơn giản là đang nếm trải cùng một chu kỳ suy thoái mà nó luôn
luôn phải gánh chịu. Chúng ta có thể thấy những hột giống của sự suy thoái lộ
ra rất rõ ràng. Khi chúng ta nhìn vào thế giới hôm nay, chúng ta nhìn thấy thế
giới là một sân khấu rất rộng lớn. Một sân khấu rộng lớn với bức màn sau cùng vẫn
đang hạ xuống. Và chúng ta cảm thấy rằng các diễn viên ở đằng sau bức màn sau cùng
đó, chuẩn bị cho bối cảnh sau cùng trong thảm kịch lịch sử nhân loại. Vở kịch sắp
hạ màn rồi. Vẫn còn thêm một cảnh nữa. Và cảnh cuối cùng đó là những ngày sau rốt
và sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ.
Nếu
chúng ta bước đến gần sân khấu, ở đàng sau bức màn, chúng ta có thể nghe được
tiếng hoan nghênh của các nhà làm phim khi họ lắp đặt máy móc và dựng lên sân
khấu cho hành động cuối cùng đó. Và giờ đây, khi chúng ta đến với Đaniên 2, Đaniên
đưa chúng ta ra phía sau bức màn trước khi nó bị kéo lên. Chúng ta sẽ nhìn thấy
những việc không thể tin được, không những trong Đaniên 2 mà còn từ Đaniên 2 cho
đến cuối quyển sách. Việc bày ra màn kịch sau cùng trên sân khấu lịch sử nhân
loại.
Tối
nay khi chúng ta nhìn vào chương 2, câu 31 và tiếp theo đó, chúng ta sẽ nhìn thấy
lịch sử vĩ đại của quyền cai trị thế giới của các dân Ngoại. Chúa Jêsus phán rằng
sẽ có một thời kỳ gọi là - Lu-ca 21:24 - thời kỳ của các dân Ngoại. Và nó đã khởi
sự rồi, nó sẽ đến phần kết thúc khi Đấng Christ hiện đến. Thực vậy, câu nói cho
rằng Giê-ru-sa-lem sẽ bị những dân ngoại choán lấy cho đến khi thời kỳ dân Ngoại
đã được trọn. Sẽ có một khoảng thời gian khi Jerusalem bị ở dưới quyền kiểm
soát. Khi dân Israel sống dưới chế độ nô lệ, ở cấp độ nầy cấp độ khác, quyền lực
thế giới dân Ngoại.Thời kỳ nầy đã được nhìn biết là thời kỳ các dân Ngoại.
Rất
là thú vị ở chỗ nó khởi sự với việc làm phu tù cho người Ba-by-lôn. Thời kỳ ấy
khởi sự với Nê-bu-cát-nết-sa, nó kết thúc với sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ.
Chúng ta đang sống trong thời kỳ đó lúc bây giờ. Israel chưa có toàn bộ cơ nghiệp
của nó, Israel không ở trong xứ với sự hòa bình, Israel không sở hữu mọi thứ từ
biển Địa Trung Hải đến sông Tigris và Euphrates như trong giao ước Palestine nguyên
thuỷ.
Đây
là thời kỳ của các dân Ngoại. Các dân Ngoại đã thống trị một phần của thế giới
kể từ thời Nê-bu-cát-nết-sa, và họ sẽ nắm giữ quyền lực ở một cấp độ nào đó cho
tới chừng Chúa Jêsus tái lâm.
Trong
Ê-xê-chi-ên 21, Ê-xê-chi-ên nói với chúng ta rằng sự vinh hiển đã lìa khỏi
Y-sơ-ra-ên. Sự vinh hiển đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên. Bấy giờ, theo một ý nghĩa nào
đó, khi Israel phải đi làm phu tù, Đức Chúa Trời sẽ vận hành. Và Y-ca-bốt, sự vinh
hiển đã lìa khỏi được viết lên trên mảnh đất đó.
Giờ
đây, hãy lắng nghe tôi. Chương thứ hai sách Đaniên khi ấy chỉ ra rằng Đức
Chúa Trời chuyển quyền lãnh đạo Đất nầy từ người Do-thái và Isarel cho các dân
Ngoại. Israel kiếm chiếc ghế dựa lưng. Israel bước vào cuộc phu tù rồi không
bao giờ trở lại với sự vinh hiển trước kia của nó nữa, cũng không thậm chí là
hôm nay. Cũng không cho tới chừng Chúa Jêsus hiện đến. Israel sẽ là trọng
tâm của thế gian. Israel sẽ là khuôn mẫu, cấp lãnh đạo của thế giới. Israel sẽ
là dân sự rất đặc biệt của Đức Chúa Trời nguyên đã được dự trù cho họ phải trở
thành, qua họ chúng ta được ban cho luật pháp và giới luật và các giao ước cùng
mọi lời hứa. Israel sẽ là sứ giả cho thế gian. Song Israel đã thất bại thảm
hại.
Trong
Phục truyền luật lệ ký 32:8, khi
Đấng Chí Cao phân chia cho các dân cơ nghiệp của họ, khi họ biệt riêng con cái của
A-đam, Ngài lập giới hạn chỗ ở các dân theo số con cái Y-sơ-ra-ên. Trong khi phần
của Chúa là dân sự Ngài, Giacốp là phần cơ nghiệp Ngài. Nguyên Y-sơ-ra-ên là
dân sự của Ngài. Gia-cốp là phần cơ nghiệp của Ngài. Trung tâm của thế giới và là
mục tiêu của mọi sự là về Israel, tuyển dân của Đức Chúa Trời. Đó là cách mà sự
việc xảy ra. Đó là cách mà Đức Chúa Trời đã dự định phải được nên.
Chính
mục đích của Đức Chúa Trời, nhà vua, Con Đức Chúa Trời hoá thân thành nhục thể
sẽ hiện đến và trị vì tại Giê-ru-sa-lem. Và từ Ngài sẽ tuôn tràn ra ơn phước
cho cả thế gian. Nhưng, như bạn biết đấy, lịch sử bi thảm của Israel, Israel đã
không vâng theo Đức Chúa Trời, Israel không kính sợ Đức Chúa Trời, Israel bước
vào tình trạng thờ lạy hình tượng, tà dâm thuộc linh và đủ thứ việc gian ác
khác nữa và sau cùng Đức Chúa Trời đã phải gạt Israel ra khỏi vị trí trung tâm.
Họ sẽ là địa điểm của Đấng Mê-si.
Trong
Thi Thiên 2, chương 2 của sách Thi thiên, Đức Chúa Trời phán rất là rõ ràng. Ngài
phán: "Dầu vậy" - câu 6 - "ta đã lập Vua ta trên Si-ôn là núi thánh ta". Địa
điểm của Đức Chúa Trời là Si-ôn. Vua của Ðức Chúa Trời ngự ở Si-ôn. Không một ai
chiếm được chỗ đó. Nhưng điều gì đã xảy ra? Trước tiên, vương quốc bị chia ra
làm hai vì những tội lỗi kinh khiếp của Sa-lô-môn. Mười chi phái ở phía Bắc tách
ra rồi trở thành nước Israel. Hai chi phái còn lại ở phía Nam - Giuđa và
Bên-gia-min - tạo thành dân Giuđa. Thế là bạn có Giu-đa và Y-sơ-ra-ên. Các chi
phái phía Bắc quyết định họ thích thờ lạy hình tượng hơn là sự thờ phượng thật
của Đức Chúa Trời. Vì vậy, họ theo đuổi sự thờ lạy thần tượng và họ đã bị người
A-si-ri tiêu diệt.
Người
công bình ra khỏi mười chi phái về định cư ở phía Nam. Và vì thế phía Nam là dân
sót của mười chi phái cộng thêm chi phái Giu-đa và Bên-gia-min. Nhưng đáng buồn
phải nói, họ cũng nổi loạn. Họ cũng sa vào sự thờ lạy hình tượng, và không nhiều
năm sau đó, họ cũng bị đưa đi làm phu tù trong xứ Ba-by-lôn, và đấy là chỗ mà
chúng ta bắt chuyện khi chúng ta đến với sách Đaniên.
Đây
là câu chuyện nói tới xứ Giuđa, Vương quốc phía Nam, bị đưa đi là phu tù. Và phần
khởi sự cuộc thống trị của dân Ngoại trên xứ sở Israel. Những ngày vinh quang
đã qua rồi. Những ngày tuyệt vời đã qua rồi. Jerusalem là một đống đổ nát, bị tàn
phá, bị tiêu hao và các thời kỳ dân Ngoại đã bắt đầu. Và xứ ấy sẽ không phải là
Y-sơ-ra-ên trọn vẹn nữa cho đến khi Đấng Mê-si tái lâm.
Bây
giờ hãy lướt qua phần lịch sử từ Nê-bu-cát-nết-sa và tình trạng phu tù cho người
Ba-by-lôn suốt đến thời buổi của Đức Chúa Jêsus Christ được gộp hết trong một chương
này, và tôi muốn các bạn nhìn xem ở đó. Đây là phân đoạn rất mạnh mẽ trong Kinh
Thánh. Mọi sự từ Nê-bu-cát-nết-sa cho tới sự đến của Ðức Chúa Jêsus Christ đều
được đề cập đến trong chương này một cách rộng rãi và bao quát.
Bây
giờ hãy cùng đi với tôi. Mặc dù Sy-ri-a và Ai-cập đã cố gắng liên tục lật đổ
Jerusalem, họ chưa bao giờ thành công. Tại sao chứ? Họ luôn bị cản trở bởi quyền
phép của Đức Chúa Trời. Và tất nhiên Sy-ri-a và Ai-cập bị coi là những kẻ cừu thù
của Israel vì Ai-cập là về phía Nam và Sy-ri-a là về phía Bắc và phía Đông. Sy-ri-a
và Ai-cập nhiều lần đã cố gắng để tiêu diệt Israel. Họ đã cố gắng đánh bại, cướp
phá và quét sạch Jerusalem nhưng họ không bao giờ thành công. Hết thế kỷ nầy đến
thế kỷ khác, và cứ thế, họ đã bị ngăn trở trong nỗ lực ấy và lý do là chưa đến
thời khắc của Đức Chúa Trời.
Giê-ru-sa-lem
sẽ không bị các dân Ngoại đánh hạ - hãy nghe - cho đến khi tình trạng gian ác của
Giê-ru-sa-lem được đầy dẫy. Và sau cùng, khi Đức Chúa Trời nói rằng đó là mọi sự
mà ta đã làm, thì Nê-bu-cát-nết-sa tới đến tàn sát Giêrusalem, sau đó là những kẻ
bị bắt đưa đi làm phu tù rồi khởi sự các thời kỳ của dân Ngoại. Sự thống trị đã
được gỡ bỏ khỏi quốc gia Israel.
Bây
giờ khi chúng ta đến với Ða-ni-ên, Y-sơ-ra-ên đang ở trong tình trạng phu tù. Đaniên
đang phục vụ trong vai trò người Do-thái phu tù, tuy nhiên vì cớ mọi năng khiếu
và tài năng, ông đã được thăng cấp để phục vụ trong triều đình của vua
Nê-bu-cát-nết-sa, giúp đỡ ông ta làm việc với các vụ việc của người Do-thái. Vì
cớ phẩm chất trung thành, không thoả hiệp và lạ lùng của mình, ông có một vị
trí rất độc đáo trong xứ.
Bấy
giờ, Đaniên khởi sự với các thời kỳ của dân Ngoại. Giờ đây, cho phép tôi nói điều
này: ngay trong chương 2, Đức Chúa Trời ban cho Đaniên lời tiên tri qua chiêm
bao của Nê-bu-cát-nết-sa, nó mô tả thời kỳ nầy của lịch sử. Nó mô tả thời kỳ ấy
từ đầu cho đến cuối, nó kết thúc ra sao, thậm chí sự kết thúc ấy còn được mô tả
rõ ràng nữa. Và khi tôi nghiên cứu điều đó, tôi nhũ lòng rằng tại sao một lời
tiên tri như thế lại đến nhằm thời điểm bắt đầu các thời kỳ của dân Ngoại. Nếu
nó sẽ kéo dài hàng ngàn năm - nó đã kéo dài hơn 2.000 năm rồi - nếu nó sẽ kéo
dài cho các khoảng thời gian này, tại sao lời tiên tri này ngay từ đầu đã được
ban ra? Phải, tôi nghĩ rằng có một lý do đúng đắn.
Tôi
nghĩ sau khi Israel bị đi làm phu tù, không lâu sau khi xứ Giu-đa bị đưa đi làm
phu tù, không lâu sau khi dân sự của Đức Chúa Trời nhìn biết các dân Ngoại đang
cai trị trên đất của họ, Đức Chúa Trời muốn họ nhìn biết rằng đó không phải là
một điều vĩnh cửu. Tại sao chứ? Bởi vì nếu họ cảm thấy sự thể ấy mãi mãi dành
cho xứ Israel, họ sẽ bắt đầu thắc mắc về sự đáng tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Vì
Đức Chúa Trời nhiều lần phán rằng Ngài sẽ không hề lìa bỏ dân sự Ngài, Ngài sẽ
giữ giao ước của Ngài, Ngài sẽ luôn làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài, Ngài sẽ
không bao giờ quên Jerusalem. Và vì vậy, tôi tin rằng không bao lâu sau khi họ
bị đi làm phu tù Đức Chúa Trời tỏ ra sự đầy trọn của chương trình từ đầu đến cuối.
Phần khởi sự các thời kỳ dân Ngoại và phần kết thúc các thời kỳ dân Ngoại khi
Israel trở lại với vị thế vinh hiển của nó hầu cho họ sẽ nhìn biết rằng Đức
Chúa Trời không thất bại trong mọi lời hứa tốt lành của Ngài.
Vào
thời điểm này, khi lời tiên tri được đưa ra trong chương 2, Jerusalem đang trong
đống đổ nát, đền thờ bị tàn phá, xứ Giu-đa bị phá hủy, những cái bình thiêng
liêng của đền thờ đã bị mang đi rồi được đặt trong một đền thờ hình tượng. Sự vinh
hiển đã rời khỏi xứ sở. Y-ca-bốt đã được viết ra trên dân sự, con cái Israel đứng
bên bờ sông Ba-by-lôn treo đàn cầm của họ trên cây liễu rũ bởi vì họ chẳng còn có
bài nào để hát cả, và thắc mắc ngay lập tức là có phải Đức Chúa Trời từ bỏ vĩnh
viễn dân sự Ngài hay không? Và lời tiên tri đang rung lên ở Đaniên 2 đáp: “No”.
Điều
nầy có phải là chấm dứt chăng? Có phải Đức Chúa Trời đã quên giao ước của
Ngài? Có phải mọi lời hứa đều mất hết chăng? Lời của Đức Chúa Trời há
chẳng thực sao? Không. Và sự khải thị lạ thường ngay lập tức hiện đến. Bây
giờ, chúng ta hãy nhìn xem sự khải thị đó. Trong 31 câu ở câu chuyện Đaniên
2, chúng ta đã nhận được điềm chiêm bao. Chúng ta sẽ không quay lại đó. Nếu
bạn có mặt ở đây tuần rồi, bạn đã tiếp thu lấy mặc thị ấy. Điềm chiêm bao
đã nhận được. Một tối kia, Nê-bu-cát-nết-sa, vị vua tà giáo nầy không tin
nơi Đức Chúa Trời của Israel, ông ta sắp sửa đi ngủ và khi ông ta đang nằm trên
giường mình, theo câu 29, ông ta nằm trên giường suy nghĩ, ông ta khởi sự suy
nghĩ về đế quốc của mình và ông ta đã cai trị thế giới lúc bấy giờ và ông ta là
một nhà độc tài quyền lực nhất ở đó. Và ông ta khởi sự suy nghĩ về việc sẽ
xảy ra khi ta qua đời? Tương lai rồi sẽ ra thế nào đây?
Và
khi ông ta suy nghĩ về các tư tưởng này, ông ta ngủ thiếp đi và ông mơ thấy một
số chiêm bao, Kinh Thánh nói. Một trong những chiêm bao đó là một chiêm bao rất
đặc biệt mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông ta thấy. Ông ta biết rõ mình sẽ không
sống đời đời được. Ông ta đã nhìn thấy các đế quốc khác đến rồi đi. Ông ta quan
tâm sâu sắc bởi đế quốc của mình và vì vậy ông ta đã mơ một điềm chiêm bao. Một
trong những giấc chiêm bao, giấc chiêm bao mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông ta
thấy là một bức tranh - bây giờ hãy xem bức tranh đó – nói về lịch sử từ
Nê-bu-cát-nết-sa cho đến sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ. Một lời tiên tri
đáng kinh ngạc trong một điềm chiêm bao. Thời kỳ mà ông ta nhìn thấy là thời kỳ
của các dân Ngoại, người cai trị thế giới trong bối cảnh ngoài Israel.
Hãy
xem - câu 28, và hãy khoanh tròn câu ấy ở chương 2 - "Nhưng có một Đức Chúa Trời ở trên trời", Đaniên
nói: “tỏ ra những sự kín nhiệm và đã cho vua Nê-bu-cát-nết-sa
nhận biết điều" - bây giờ xem chỗ này - "sẽ
tới trong những ngày sau rốt". Bây giờ có một cụm từ chìa
khoá, và chúng ta sẽ cung ứng cho bạn một sự dạy tối nay. Đây sẽ là phần tiếp
thu mà chúng ta sẽ bám vào. Những ngày sau rốt: đấy chẳng phải là một cụm từ hạn
chế sự hiểu biết của Nê-bu-cát-nết-sa. Đấy chẳng phải là một cụm từ hạn chế cho
cuộc đời của Nê-bu-cát-nết-sa. Khi nói tới những ngày sau rốt, đấy là những gì
chúng ta gọi là câu nói về thời kỳ mạt thế. Từ chữ Hy Lạp, Escatos, ý
nói tới những việc cuối cùng. Đấy là một thuật ngữ đề cập đến những ngày sau rốt
trong thời kỳ của Đấng Mêsi. Thực vậy, những ngày sau rốt là một lời tiên tri hay
được lặp đi lặp lại.
Bạn
có thể tìm gặp câu nói đó trong Kinh thánh ở Sáng thế ký 49, Phục truyền luật lệ
ký 4, Phục truyền luật lệ 31, Dân số ký 34, Giê-rê-mi 23, Giê-rê-mi 30, Giêrêmi
48, Giêrêmi 49, Êxêchiên 38, Đaniên 10, Josiah 3, Michael 4 và các nơi khác nữa.
Và bất cứ lúc nào bạn gặp cụm từ những ngày sau rốt, nó bao gồm việc Đấng Mêsi trở
lại hoặc thời kỳ của Đấng Mêsi. Vì vậy, đây là một thuật ngữ rất rộng đưa chúng
ta đến với những ngày sau rốt.
Theo
như tôi thấy, mỗi tác phẩm có tính cách tiên tri trong Cựu Ước đề cập đến những
ngày sau rốt, bao gồm sự hoàn thành của lịch sử trong sự đến của Đấng Mêsi. Vì
vậy, chính cụm từ đó: "điều sẽ tới trong những ngày
sau rốt", trong trường hợp Nê-bu-cát-nết-sa, là nhìn
thấy mọi con đường đều dẫn tới Đấng Mêsi, Đức Chúa Jêsus Christ.
Tân
Ước sử dụng thuật ngữ này theo cùng một cách. Thí dụ, Tân Ước, cụm từ ấy được sử
dụng ở Công Vụ các Sứ Đồ 2, những ngày sau rốt. Cụm từ đó được sử dụng trong II
Phierơ 3 và mỗi lần nó được sử dụng, nó bao gồm sự hoàn thành của lịch sử và
vương quốc của Đấng Mêsi. Thế là Nê-bu-cát-nết-sa đã được Đức Chúa Trời tỏ ra một
lời tiên tri về những ngày sau rốt bao gồm toàn bộ lịch sử của các nước cho đến
khi Đấng Christ tái lâm.
Hãy
xem lại câu 28. Câu nầy nói tới điều sẽ được tỏ ra trong những ngày sau rốt, chiêm bao của vua và các sự hiện thấy của đầu vua đã thấy
trên giường mình là như vầy. Hỡi
vua, khi vua nằm trên giường, có những tư tưởng về sự xảy đến sau nầy, thì Đấng
hay tỏ sự kín nhiệm đã cho vua biết sự sẽ xảy đến. Ở
đó bạn có cụm từ ấy hai lần – sự sẽ xảy đến. Một lần nữa, Nê-bu-cát-nết-sa đã
nghĩ tới một sự liên tục trong lịch sử. Vậy, Nê-bu-cát-nết-sa nhìn thấy điều sẽ
xảy đến cho những ngày sau rốt.
Bấy
giờ Nê-bu-cát-nết-sa đã nhận được điềm chiêm bao này. Thế thì điều gì đã xảy
ra? Bạn có nhớ không? Ông ta đã quên mất rồi, có đúng không? Ông ta quên điềm
chiêm bao. Nó rời khỏi lý trí của ông ta. Tôi nghĩ Đức Chúa Trời đã ban nó cho ông
ta và tôi nghĩ Đức Chúa Trời khiến cho ông ta quên nó đi vì Đức Chúa Trời muốn
minh chứng một điểm. Tôi nghĩ ông ta nhớ một vài điều mơ hồ để ông ta gợi nhớ lại
khi Đaniên thuật lại cho ông ta nghe điềm chiêm bao đó. Nhưng về mặt cơ bản,
tôi nghĩ ông ta đã quên chiêm bao ấy rồi. Bây giờ, một số phiên bản Kinh Thánh
của bạn có thể đã cung ứng cho bạn các nan đề ở tuần qua vì có chép ở phiên bản
có thẩm quyền, ấy là chiêm bao đã ra khỏi ông ta. Một số phiên bản nói sự việc
đã lìa khỏi ta. Nhiều người khác nói lịnh ra từ ta là chắc chắn hoặc lịnh ra từ
ta là khẳng định. Bây giờ thì sao chứ, bản Hê-bơ-rơ nói điều đó đã lìa khỏi ta.
Nhưng, có người đã đưa ra khái niệm về một nguồn A-ram – bản A-ram, ta nói, về mặt
cơ bản việc ấy đã rời khỏi ta - nhưng có người nói từ một tiếng A-ram khác có
nghĩa là mạng lịnh là chắc chắn. Và ông ta không nói rằng ta quên hết điều đó, ông
ta chỉ tìm cách thử hết những người khôn ngoan của mình. Vì vậy, ông ta giả vờ
quên.
Quí
vị ơi, bây giờ nói thẳng ra, khi bạn nhìn vào phân đoạn Kinh Thánh có thể là một
trong hai cách. Lý do tôi tin ông ta đã quên chiêm bao là để tôi chú vào bối cảnh
đó. Bạn nói tại sao chứ? Phải, tại sao Nê-bu-cát-nết-sa có một điềm chiêm bao
đã ra khỏi ông ta làm cho cuộc sống ông ta phải lo sợ, chiêm bao ấy cung ứng
cho ông ta một trường hợp phải hoài nghi, một điềm chiêm bao khiến cho ông ta
phải cuồng lên đến nỗi ông ta không thể ngủ được, nghĩa là ông ta bị mất ngủ. Tại
sao ông ta phải giả vờ không nhớ và bắt đầu dự vào trò chơi với những người
khôn ngoan? Đối với tôi dường như là nếu sự hoảng loạn sâu sắc như phân đoạn
Kinh Thánh chỉ ra, thì ông ta sẽ không dại gì khi tìm cách chứng minh rằng những
người khôn ngoan của ông ta thực sự không thể nói cho ông ta biết câu trả lời.
Bởi vì khi có câu trả lời, ông ta vẫn cứ nói với họ: "Hãy cho ta biết chiêm bao ấy và rồi sự giải thích
nó". Và họ sẽ nói: "Được thôi, vua nói cho chúng tôi biết giấc chiêm
bao và chúng tôi sẽ nói cho vua biết lời giải. Chúng tôi không thể hình dung ra
điềm chiêm bao nếu vua không nói cho chúng tôi biết".
Và có người nói, hừm, ông ta chỉ giả vờ không nhớ để phơi ra những điều dỏm, giả
tạo của họ.
Nhưng
bạn thấy điều đó sẽ hoàn toàn không phải là mục đích của ông ta. Ông ta đang tìm
cách để nhận được câu trả lời cho giấc mơ khủng khiếp đang quấy rồi này, chớ không
phải tìm cách lột mặt nạ những người khôn ngoan của mình đâu. Việc ấy sẽ tự bảo
lưu cho một ngày khác khi mọi thứ không hoàn toàn là hoảng loạn. Kỳ thực, ông
đã khiến cho những người khôn ngoan phải thuật lại điềm chiêm bao và phải lý giải
nó. Và ông ta rất bực bội khi họ không thể, ông ta nói ta sẽ giết từng người một,
tập trung họ lại rồi giết từng người trong số họ. Giờ đây, điều đó sẽ cung ứng cho
bạn một chút ý tưởng về sự lo sợ trong tấm lòng của ông ta.
Đồng
thời, lúc sau cùng, khi Đaniên thuật lại cho ông ta biết điềm chiêm bao, ông ta
chưa hề giết ai cả, điều nầy cho bạn thấy ông ta không thực sự tìm cách giết chết
những người khôn ngoan của mình, ông ta thực sự tìm cách muốn biết câu trả lời
cho điềm chiêm bao. Và đấy là lý do tại sao tôi tin ông ta đã quên nó. Và tôi
nghĩ Đức Chúa Trời đã giúp ông quên nó, giống như Đức Chúa Trời đã ban nó cho ông
ta, hầu cho Đức Chúa Trời có thể phơi ra những cái thứ giả tạo, dỏm giữa vòng những
người khôn ngoan rồi đặt Đaniên vào chỗ mà ông ta muốn Đaniên phải ngồi ở đấy.
Người duy nhất có câu trả lời là Đaniên. Ông là người duy nhất. Ở đây chẳng có
thì giờ để chơi game đâu. Đaniên bước vào để trở thành ống dẫn sự mặc khải của Đức
Chúa Trời và khi ông làm vậy, nhà vua đã buông tha hết thảy những người khôn
ngoan, cho thấy rằng đấy chẳng phải là ý đồ của ông ta. Ông ta chỉ muốn gợi lại
chiêm bao mình có sao cho rõ ràng.
Bấy
giờ Đức Chúa Trời được Đaniên gọi là Đấng tỏ ra những điều kín nhiệm, và đấy
chính xác là những gì xảy ra khởi từ câu 31. Điềm chiêm bao đã được gợi lại, giấc
mơ đã nhận được trong 30 câu đầu tiên, rồi trong câu 31 điềm chiêm bao đã được
gợi lại. Hãy nhớ Đaniên là người được chọn của Đức Chúa Trời - và hãy trở lại ở
chương 1, câu 17, ở đây nói rằng Đaniên đã có sự thông biết về mọi khải thị và
chiêm bao. Giờ đây Đaniên đã được Đức Chúa Trời ban cho ơn này để có thể xử lý
với các điềm chiêm bao, để có thể giải thích những giấc mơ, để có thể tỏ ra các
điềm chiêm bao và giờ đây là thời điểm của ông.
Bạn
thấy đấy, Đức Chúa Trời đang đẩy Đaniên bước lên cái thang và đây sẽ lần sau
cùng. Nê-bu-cát-nết-sa vốn tin chắc rằng nhân vật nầy mười lần khôn hơn hết
thảy những người khôn ngoan của ông gộp lại. Và bây giờ khi việc nầy xảy
ra, vua đã lập Đaniên làm Thủ tướng của toàn bộ đế quốc. Chúng ta hãy xem
điềm chiêm bao đã được gợi lại, câu 31.
Đaniên
và đây là những gì ông nói với vua: "Hỡi
vua, đây là những gì vua đã thấy". Bây giờ hãy xem việc nầy,
Đaniên không biết vì nhà vua đã không nói cho ông biết. Về mặt con người, chẳng
có cách gì để Đaniên có được phần thông tin này. Nhà vua nói ta không thể nhớ
được chiêm bao của ta, và trước hết Đaniên đã thuật lại cho vua biết chiêm bao của
vua là gì và rồi lý giải nó. Trước tiên ông nói: "Hỡi vua, vua nhìn xem, và nầy, có một pho
tượng lớn". Từ
ngữ A-ram ở đây là bức tượng. Nó không phải là một hình tượng mà bạn thờ lạy,
nó chỉ là một pho tượng.
Pho
tượng lớn này với sự sáng láng cực kỳ đứng trước mặt bạn và hình thù của nó thật
khủng khiếp. Cái đầu của pho tượng này là vàng ròng, ngực và cánh tay bằng bạc,
phần bụng và vế của nó bằng đồng. Hai bàn chân một phần bằng sắt và một phần bằng
đất sét. Bấy giờ, đó là một vật trông rất kỳ lạ. Cái đầu bằng vàng, ngực và
cánh tay bằng bạc, bụng và vế bằng đồng. Và hai chân và bàn chân là sắt và nửa
sắt nửa đất sét.
Và quả
đúng là pho tượng nầy khổng lồ, rực rỡ, to lớn. Và rồi hành động diễn ra trong
câu 34: "Vua
nhìn pho tượng cho đến khi có một hòn đá chẳng phải bởi tay đục ra, đến đập vào
bàn chân bằng sắt và đất sét của tượng, và làm cho tan nát”. Khi
ấy, sắt, đất sét, đồng, bạc, vàng, cùng nhau vỡ ra thành từng mảnh lại và giống
như rơm của các sân đập lúa vào mùa hè và gió cuốn chúng đi đến nỗi không còn tìm
thấy chỗ nào cho chúng nữa, và hòn đá đập vào pho tượng trở thành một hòn núi lớn
và đầy dẫy cả Đất. Bấy giờ, đó là một chiêm bao kỳ lạ, giấc mơ rất lạ lùng.
Và dân
sự thời buổi ấy vốn tin rằng các điềm chiêm bao đều có ý nghĩa và chiêm bao này
có ý nghĩa vì nó đã đến từ Đức Chúa Trời. Vua thấy điều gì chứ? Vua đã nhìn thấy
một pho tượng với hình dạng một con người. Nó được làm bằng kim loại láng bóng.
Bạn sẽ nhận ra phân đoạn nói tới pho tượng lớn này hai lần trong câu 31. Từ ngữ
ấy trong tiếng A-ram là lớn lao, to lớn, và chẳng làm sao để biết được nó cao lớn
dường nào trong tư tưởng của vua, nhưng đó là một pho tượng thật lớn, một bức
tượng khổng lồ. Và nó có sự sáng láng cực kỳ ở đó. Điều đó có nghĩa là nó cực kỳ
lộng lẫy. Kim loại nơi pho tượng chiếu sáng rực rỡ. Pho tượng nầy chói lói, lộng
lẫy, to lớn – Kinh Thánh chép ở cuối câu 31 - là dữ tợn. Nó gây ra sự khủng khiếp
hoặc nó tạo ra sự sợ hãi. Có lẽ chúng ta sẽ nói pho tượng ấy là đáng sợ. To lớn
thể ấy. Lộng lẫy thể ấy, đáng sợ thể ấy đến nỗi vua bắt sợ hòng chết. Và mặc dù
vua không thể nhớ được những gì mình đã thấy trong chiêm bao của mình, vua có
thể nhớ rằng mình bắt sợ pho tượng và mọi sự vua còn lại là nỗi sợ không có chiêm
bao. Và vì vậy, giờ đây Đaniên thuật lại cho vua biết đấy là điều vua đã nhìn
thấy.
Bây
giờ hãy chú ý việc này. Rất là thú vị. Về mặt cơ bản, pho tượng được làm từ các
thứ kim loại khác nhau. Khởi sự pho tượng đi từ vàng xuống tới sắt và đất sét. Đồng
thời, đất sét là asopin theo
tiếng A-ram, đây là từ ngữ nói tới thứ đất sét cứng. Có lẽ nó đề cập đến pho tượng
Trung Hoa mà họ đã sử dụng trong thời buổi ấy và đấy sẽ là điều vua đã thấy. Vua
đã thấy hai bàn chân được tạo ra từ sự kết hợp của sắt và đất sét giòn dễ vỡ.
Một
việc thú vị khác về điều này, ấy là không những nó làm giảm giá trị, mà nó còn
luôn cho tôi thấy thú vị rằng có một lực hấp dẫn tương ứng rất thấp. Vàng nặng
hơn bạc và bạc nặng hơn đồng thau và đồng nặng hơn sắt và sắt thì nặng hơn sắt
và đất sét trộn lẫn với nhau. Thực vậy, tôi đã làm một nghiên cứu nhỏ về việc ấy.
Trọng lượng riêng của vàng là 19, bạc 11, đồng 8,5, sắt 7,8.
Nói
cách khác, vàng ở phía trên nặng gấp hai lần so với phía đáy. Toàn bộ cho thấy
cái đầu rất nặng. Nặng nhất ở phần đầu. Khi càng xuống thấp thì nó càng giòn.
Thực vậy, vàng rất mềm và dẻo đến nỗi nó thậm chí không thể bị phá vỡ. Nhưng sắt
và đất sét thì có thể. Toàn bộ lịch sử của nhân loại, toàn bộ lịch sử của thế
giới dân Ngoại cho đến sự tái lâm của Đấng Christ sẽ trở thành một thứ cân đối
liên tục bấp bênh và liên tục xấu đi cho đến khi sự giải thể sau cùng của nó,
khi nó bị đập tan và bị thổi bay như bụi trong gió. Khá sinh động đấy. Từ cái đầu
bằng vàng đến hai bàn chân mỏng mảnh của pha lê Trung Quốc trộn với sắt, pho tượng
rất mong manh và có khuynh hướng dễ ngã xuống.
Và
đấy chính xác là điều xảy ra ở câu 34. Hành động bắt đầu, một hòn đá không do
tay người đục ra. Điều đó có nghĩa là nó không có nguồn gốc từ con người. Không
có người nào tạo ra hòn đá ấy. Nó đập vào pho tượng nơi bàn chân bằng sắt và đất
sét rồi vỡ ra từng mảnh. Thực vậy, đủ để chúng trở nên rơm rác bay đi vào mùa
hè. Chúng bị gió đưa đi. Không một chỗ nào tìm thấy chúng và hòn đá đập vào pho
tượng đã trở thành một hòn núi lớn và đầy dẫy cả Đất. Đá chiếm toàn bộ cả thế
giới, mọi thứ còn lại đều bị thổi bay đi hết.
Pho
tượng nặng nhất ở phần đầu bị lật đổ bởi một cú đập thật mạnh ở hai bàn chân. Với
sự tiếp nối nhanh chóng, toàn bộ sự phân hủy của pho tượng nối theo sau và tro bụi
của nó bị thổi bay đi. Giờ đây, đó là một tên lửa lạ lùng sao, bạn há không nói
vậy ư? Điều đó đập tan mọi lịch sử của các dân Ngoại. Bây giờ, đúng là chiêm bao,
đúng là một điềm chiêm bao. Bây giờ, bạn sẽ lý giải một như thế nào về điềm
chiêm bao đó? Phải, nếu bạn là Carl Hume – Đức Chúa Trời cấm - một nhà phân
tích tâm lý nổi tiếng, ông cứ mãi quanh quẩn với các điềm chiêm bao của người
ta. Tin hay không tin, Carl Hume đã có một cú sút vào chỗ nầy. Carl nói người nào
có những ý tưởng không thực tế hoặc ý kiến của họ quá cao hay những người thực
hiện chương trình lớn lao ngoài khả năng thực sự, họ có những ước mơ về việc cất
cánh bay lên hoặc rơi xuống.
Có bao
giờ bạn có loại chiêm bao ấy chưa? Đừng thừa nhận việc ấy. Bạn đã có nan đề về
cái tôi một khi bạn có ước mơ ấy. Tôi nghĩ, tất cả chúng ta đều có loại ước mơ
đó từng hồi từng lúc. Carl Hume nói rằng bất cứ người nào có một ý tưởng vĩ đại
về bản thân mình rất sợ té ngã. Và ông nói, nếu điều nầy là thật, vị vua này chắc
chắn đã lo sợ đế quốc mình bị lật đổ, cho nên ông ta sợ là việc rất thực trong
chiêm bao của ông. Hume nói tiếp: "Chiêm
bao đền bù cho sự thiếu hụt nhân cách của họ và đồng thời nó cảnh báo họ về mối
nguy hiểm của con đường hiện họ đang đi". Nói cách khác, thật
lấy làm tốt là tinh thần của bạn cung ứng cho bạn chiêm bao ấy khiến bạn cảnh
giác để điều đó sẽ không xảy ra cách dễ dàng như vậy.
Bây
giờ nếu chúng ta nắm lấy góc độ tâm lý, điềm chiêm bao đơn giản là Nê-bu-cát-nết-sa
nhìn thấy chính mình. Vua nhìn thấy chính mình tìm cách đứng vững và vua có một
đế quốc to lớn cực kỳ. Và gộp lại, vua là phần đầu, con người. Vua là vàng.
Nhưng việc càng đi tới thì càng trở nên mong manh hơn và vua đang trụ ở mức cân
đối để tránh bị lật đổ bởi một vị vua hoặc đối thủ kế tiếp. Bây giờ đấy là góc
độ tâm lý. Và tôi sẽ hứa với bạn, quí vị ơi, tôi sẽ cho bạn đoán. Tôi nghĩ nếu
những người khôn ngoan trong thời ấy đã từng nghe thấy điềm chiêm bao, có lẽ đó
là điều đã được ban cho họ. Có lẽ đó là sự giải thích của họ. Đó là cách tiếp cận
về mặt tâm lý. Bạn chỉ nhìn thấy tiềm năng sụp đổ của riêng bạn.
Nhưng
quí vị ơi, nói thẳng ra, những người khôn ngoan đều là vô dụng và Carl Hume
cũng vậy khi đến với Kinh Thánh, vậy chúng ta hãy nghe theo Đaniên. Và từ điềm
chiêm bao đã nhận được và giấc mơ được gợi lại, thứ ba chúng ta đến với chiêm
bao đã được tỏ ra, câu 36. Và vì vậy, bạn đừng quên điều đó cụ thể trong câu
36. Đây là điềm chiêm bao - tôi mới vừa đưa ra - và chúng ta thuật lại phần giải
thích ở trước mặt nhà vua. Bây giờ, tôi cung ứng cho bạn điềm chiêm bao. Ở đây có
phần giải thích. Cái điều tôi lấy làm ngạc nhiên là Nê-bu-cát-nết-sa không hề nói
bất cứ điều gì trong toàn bộ sự việc này. Vua không hề nói một lời.
Vua
không nói: "Nào, ngươi
nói đúng rồi. Đúng là chiêm bao đó. Ngươi đã biết rồi đó".
Hoặc vua không nói: "Không,
nói như thế là sai lầm". Vua không nói gì hết. Bạn
biết đấy, tôi nghĩ vua chẳng thể nói gì được. Tôi nghĩ miệng của vua đang há rộng
ra. Bởi vì Đaniên nói đúng. Ở phần cuối câu chuyện ở chương 2 sẽ cho chúng ta
biết, Đaniên đã đúng khi vua lập ông làm Thủ tướng trong toàn bộ khu vực.
Nhưng
ông nói – hãy nhìn vào đây suy nghĩ một chút – câu 36: "Chúng
tôi sẽ giải nghĩa nó”. Ai là chúng tôi chứ? Có
người sẽ nói đó là Đa-ni-ên và ba người bạn của ông, những người đã hiệp nguyện
về sự việc nầy và với họ ông chia sẻ điềm chiêm bao. Có người nói đó là
Đa-ni-ên và Đức Chúa Trời. Và những nhà giải kinh cứ luận tới luận lui về
điều đó. Tôi không có vấn đề gì hết. Tôi nghĩ đó là Đức Chúa Trời và
ba bạn của ông. Hết thảy họ đều có liên quan đến chiêm bao ấy. Chúng
ta phải bao gồm bất cứ ai biết về chiêm bao đó. Rồi chúng tôi sẽ nói cho vua
biết phần lý giải. Và phần lý giải đến ở chỗ nầy, hãy xem nhé.
"Hỡi vua, vua là vua các vua, vì Chúa trên trời
đã ban nước, quyền, sức mạnh, và sự vinh hiển cho vua. Ngài đã trao trong tay
vua những con cái loài người, những thú đồng và chim trời, dầu chúng nó ở nơi
nào, Ngài cũng đã làm cho vua được cai trị hết thảy; vậy vua là cái đầu bằng
vàng". Chính là vua đó.
"Nhưng
sau vua, sẽ dấy lên một nước khác" – cái
cớ chính đáng nói nhẹ hơn một chút; một chút nữa chúng ta nói về câu ấy - "kém nước của vua; rồi một nước thứ ba, tức là
đồng, sẽ cai quản khắp đất. Lại có một nước thứ tư mạnh như sắt; vì sắt
hay đập vỡ và bắt phục mọi vật, thì nước ấy cũng sẽ đập vỡ và nghiền nát như là
sắt vậy. Còn như vua đã thấy bàn chân và ngón chân nửa
bằng đất sét nửa bằng sắt, ấy là một nước sẽ phải phân chia ra; nhưng trong
nước đó sẽ có sức mạnh của sắt, theo như vua đã thấy sắt lộn với đất sét. Những ngón chân nửa sắt nửa đất sét, nước đó
cũng nửa mạnh nửa giòn. Vua đã thấy sắt lộn với đất sét, ấy là chúng nó lộn nhau
bởi giống loài người; song không dính cùng nhau, cũng như sắt không ăn với đất
sét".
Bây
giờ thì chúng ta sẽ dừng lại ở đó. Và bạn nói: "Được thôi, chỗ đó chẳng trợ giúp gì nhiều đâu". Nó
sẽ trợ giúp nhiều nếu bạn chỉ cần tập trung trong một phút thôi. Điều nầy
rất lạ thường. Pho tượng tiêu biểu – hãy đánh dấu đi – cho bốn đế quốc với
bối cảnh liên tục từ Nê-bu-cát-nết-sa cho đến Đức Chúa Jêsus Christ. Israel không
còn là quốc gia lãnh đạo của Đức Chúa Trời nữa, không còn những nhà cai trị lâu
dài của phần đất ấy trong thế gian nữa, thành Jerusalem không ở dưới sự cai trị
của Israel để trở thành trung tâm mọi vụ việc của Đức Chúa Trời với con người nữa. Và
bốn đế quốc to lớn cấp thế giới sẽ tồn tại cho đến khi Đấng Christ hiện đến và
phục hưng Israel.
Chúng
ta hãy xem đế quốc thứ nhứt ở các câu 37-38: "Hỡi vua, vua là vua các vua, vì Chúa trên trời
đã ban nước, quyền, sức mạnh, và sự vinh hiển cho vua.
Ngài đã trao
trong tay vua những con cái loài người, những thú đồng và chim trời, dầu chúng
nó ở nơi nào, Ngài cũng đã làm cho vua được cai trị hết thảy; vậy vua là cái
đầu bằng vàng".
Bây
giờ, bạn sẽ thấy rằng Nê-bu-cát-nết-sa được nhắc tới ở câu 37 là vua các vua. Một
tước hiệu đã được Đức Chúa Trời ban cho ông ta. Hãy chú ý đó. Điều nầy
có thú vị không chứ? Vì Chúa trên trời đã ban nước, quyền, sức mạnh, và sự
vinh hiển cho vua. Các thế lực mà Phaolô nói ở Rôma 13 đã được ấn định – sao chứ - bởi Đức
Chúa Trời. Công Vụ các Sứ Đồ 17, Phaolô nói Đức Chúa Trời đã dựng lên các nước
và ấn định các đường biên giới của họ. Đức Chúa Trời đang ở trong công việc
cai trị trên các vua và các nước. Và Đức Chúa Trời ưng ban cho vua quyền
thế, nước, sức mạnh và sự vinh hiển. Vua là vua các vua. Nói cách
khác, là vua tối thượng ở trên Đất. Và vua được ban cho quyền cai trị Đất
dù vua không hề kéo dài sự trị vì của mình bao hết cả Đất. Câu Kinh Thánh
hàm ý vua có thể làm việc ấy. Vì Đức Chúa Trời đã ban cho vua quyền đó.
Ở bất
cứ đâu con người sinh sống, bất cư đâu có loài thú đồng và chim trời, ở đó đã
được trao vào tay vua mặc dù ông ta không hề xưng nhận mọi sự đó. Ông ta
được gọi là vua các vua. Đồng thời, trong Êxêchiên
26:7, Êxêchiên gọi ông ta cũng cùng tước hiệu đó. Thế là
Êxêchiên nhận từ nơi Đức Giê-hô-va cũng cùng một sứ điệp: Nê-bu-cát-nết-sa là một
vị vua độc tôn. Đồng thời, vương quốc của ông kéo dài 70 năm, con số về
năm thật chính xác mà Đức Chúa Trời mong muốn để cho Israel sống trong cảnh phu
tù cho người Ba-by-lôn trước khi Ngài đem họ trở lại. Đức Chúa Trời đã dấy
Nê-bu-cát-nết-sa lên. Đức Chúa Trời đã dấy vương quốc của ông ta lên để
làm đại biểu cho sự sửa phạt. Và khi công tác sửa phạt đã xong rồi, họ vẫn
được tồn tại.
Và
như vậy, Chúa trên trời đã ban nước cho ông. Bây giờ, nước của ông trải trên phần
quan trọng của thế giới trong thời buổi của ông. Từ khắp Ai-cập quanh khu vực
biển Địa Trung Hải, dài đến tận Vịnh Ba-tư, hết thảy phần đó của thế giới đặt
dưới quyền cai trị của nhân vật nầy. Ông là vị vua độc tôn. Ông là
vua các vua trong thời của ông. Ông cai trị trên mọi sự và mọi người. Và
như tôi đã nói, ý tưởng cho rằng sự cai trị đó kéo dài trên loài thú đồng và
chim trời chỉ là cách nói để tỏ ra cấp độ rất lớn và phạm vi quyền hành của ông.
Đối với bất kỳ ai trong thời của ông, Nê-bu-cát-nết-sa đã vượt trội hơn họ về
quyền bính và thẩm quyền của ông.
Bấy
giờ, Nê-bu-cát-nết-sa là một vị vua chỉ trong 43 năm, nhưng đế quốc của ông đứng
vững trong 70 năm. Ông là cái đầu của đế quốc ấy chỉ trong 43 năm trong 70
năm hoặc khoảng 43 năm. Các nước tới sau ông – hãy chú ý điều nầy – được xác
nhận là vương quốc, chớ không là các vua. Trong bốn đế quốc cấp thế giới, Kinh
Thánh chép Nê-bu-cát-nết-sa là cái đầu. Từ đó trở đi không có một vị vua
nào từng được nhắc tới. Nó chuyển từ một vị vua sang các vương quốc. Vương
quốc thứ hai, vương quốc thứ ba và vương quốc thứ tư. Còn lần thứ nhứt là
một vị vua. Tại sao chứ? Vì vương quốc thứ nhứt duy nhứt là nền quân
chủ tuyệt đối được kết hợp lại. Phần còn lại của pho tượng có một sự thay đổi
ở phương thức cai trị được đề cập đến. Nhưng Nê-bu-cát-nết-sa là vua các
vua, theo nghĩa đen, về mặt cá nhân, duy nhứt ông chịu trách nhiệm phải đạt tới
và giữ vững địa vị của mình và vai trò của đế quốc của ông. Rồi sau ông,
quyền lực nhanh chóng thu nhỏ lại. Leon Wood nói đúng: chính vương quốc của
ông sâu xa hơn là ông là vua của nó.
Cũng
không thật về các đế quốc tiếp theo. Bây giờ, cho phép tôi nói cho bạn biết
một việc khác cũng rất là thú vị. Bạn để ý thấy Kinh Thánh chép cái đầu là
cái đầu bằng vàng. Tại sao lại là vàng chứ? Phải, vàng rất là to lớn
trong đế quốc Ba-by-lôn. Herodotus, ông là một sử gia, đã đến viếng Ba-by-lôn
90 năm – ông là sử gia đời xưa – đã đến viếng Ba-by-lôn 90 năm sau kỷ nguyên của
Nê-bu-cát-nết-sa. Và Herodotus đã viết rằng không hề có trong đời sống của
ông trên Đất, ông đã nhìn thấy một sự dư dật và sự nảy nở về vàng như ông đã
nhìn thấy ở Ba-by-lôn. Ông mô tả các nhà thờ, các loại bình và đồ thiết bị
quân sự và các thứ trang hoàng làm bằng vàng trên khắp đế quốc của người Ba-by-lôn. Chín
mươi năm sau kỷ nguyên của Nê-bu-cát-nết-sa, phần vết tích hãy còn ở đó.
Nê-bu-cát-nết-sa
mong muốn xây dựng một ngai vàng ở giữa một thành phố toàn là vàng. Êsai
14:4 đề cập đến mối bận
tâm của Nê-bu-cát-nết-sa với vàng. Nhưng nó chỉ
kéo dài 70 năm, lâu đủ để làm ứng nghiệm mục đích sửa phạt của Đức Chúa Trời. Thế
là Nê-bu-cát-nết-sa là cái đầu bằng vàng. Sự đoàn kết quan trọng vì đây là
sự cai trị của một người. Ông đã kêu gọi mọi sự đóng góp.
Hãy
nhìn vào câu 39: vương quốc thứ hai tiếp theo sau. "Nhưng sau vua, sẽ dấy lên một nước khác, kém
nước của vua; rồi một nước thứ ba, tức là đồng, sẽ cai quản khắp đất". Chúng
ta hãy nhìn vào vương quốc thứ hai trong một phút. Chúng ta biết, lui lại ở
câu 32, rằng hai cánh tay của pho tượng làm bằng bạc. Vì vậy vương quốc thứ
hai được tiêu biểu bằng bạc. Và bạn sẽ để ý tới nó khi bạn lần xuống, bạn lần
xuống đến ngực và hai cánh tay. Được rồi. Hai cánh tay pho tượng làm
bằng bạc. Ngực và hai cánh tay. Và bấy giờ bạn không có sự gắn kết với
cái đầu nữa. Bạn có một tình huống gồm có hai phần. Và phần thứ hai ở
câu 39 chỉ đề cập đến Đế quốc Mê-đi Ba-tư. Phần ấy phải đề cập đến Đế quốc
Mê-đi Ba-tư vì Đế quốc Mê-đi Ba-tư nối theo đế quốc Ba-by-lôn. Chẳng có
cách nào khác để bạn có thế giải thích vấn đề đâu. Các nhà giải kinh đều đồng ý
Đế quốc Mê-đi Ba-tư vì nó theo sau ngay đế quốc Ba-by-lôn.
"Ngực
và hai cánh tay" theo câu 32, đều "bằng
bạc". Và điều nầy ám chỉ một sự phân chia có
hai phần. Và Đế quốc Mê-đi Ba-tư đúng là như thế đó. Được dựng nên gồm
có người Mê-đi và người Ba-tư. Không còn có sự gắn bó ở đó nữa và bạn cũng
sẽ thấy rằng tấm huy chương không có giá trị bao lăm. Nó làm bằng bạc.
Hãy
chú ý, “kém”
hơn của thế gian ở câu 39. "Nhưng sau vua, sẽ dấy lên một nước khác, kém
nước của vua". Sát
nghĩa, và tôi muốn bạn cùng nhìn thấy với tôi ở chỗ nầy, từ ngữ mang ý nghĩa “kém”. Tôi
không nghĩ “kém” là
cách dịch đúng đâu. Tôi không nghĩ chúng ta cần phải lập một sự xét đoán về
chất lượng và giá trị về sự “kém” đó. Tôi
nghĩ ông chỉ nói kém hơn và rồi kém hơn và rồi kém hơn. Đấy là phần tham
khảo sát nghĩa theo tiếng A-ram. Ông chỉ nói tới việc lần xuống thấp hơn từ
pho tượng. Bạn khởi sự tới vàng rồi thấp hơn bạn đến với bạc. Đây
không thực sự là một chú giải về chất lượng hay kích cở hoặc bất cứ điều gì.
Đồng
thời, ba đế quốc sau cùng kia đều rộng lớn cả. Thực vậy, họ cơi rộng ra xa
như họ đi vậy. Mê-đi Ba-tư thì rộng lớn hơn Ba-by-lôn, Hy-lạp thì rộng lớn
hơn Mê-đi Ba-tư kia và Rome thì rộng lớn hơn Hy-lạp. Họ liên tục ngày càng
rộng lớn hơn. Không những thế, mỗi đế quốc đó đều mạnh mẽ hơn đế quốc trước
nó. Cho nên, nói “kém” thực
sự chẳng phải là việc tốt nhứt để nói. Họ chẳng phải là “kém”
theo kích cở và họ chẳng phải là “kém” ở
chỗ quyền bính. Thà là nhìn thấy nó đơn sơ theo ý nghĩa của từ ngữ là “kém hơn” một
khi đã có một sự lớn mạnh về quyền lực và rộng lớn nhiều về lãnh thổ.
Bây
giờ, cái điều luôn luôn thú vị ở câu 39, câu ấy nói đơn giản rằng sau khi các đế
quốc nầy đến đế quốc khác dấy lên kém hơn. Kém hơn đối với vua hay kém hơn
vua. Kinh Thánh chép chẳng có quan trọng gì về việc ấy. Trong hết thảy
bốn vương quốc, đây là vương quốc mà Kinh Thánh chẳng nói gì đến. Vương quốc
kế tiếp Kinh Thánh chép nó “sẽ cai quản khắp Đất”. Ông
chẳng nói gì đến vương quốc thứ hai. Tại sao chứ? Phải, tôi nghĩ ông
không muốn làm cho Nê-bu-cát-nết-sa phải hoang tưởng, lo lắng về vương quốc sẽ
ra thế nào và nó sẽ đi tới đâu và nó sẽ ra từ đâu. Vì đây là vương quốc sẽ
lật đổ vương quốc của ông ta. Và câu chuyện được lướt qua cách nhanh chóng. Nhưng
chúng ta biết rằng nó đề cập đến Đế quốc Mê-đi Ba-tư.
Bây
giờ, bạc theo tiếng A-ram thì cũng như là tiền. Cùng một chữ. Bản chất
của Mê-đi Ba-tư nầy sẽ là tiền hay bạc. Và lịch sử cho thấy điều nầy. Đế
quốc Mê-đi Ba-tư đã phát triển một hệ thống lớn lao về thuế má. Họ buộc
thuế má phải được nộp bằng bạc và họ chất đầy những cái két với hàng tấn, tấn bạc. Các
vua của Đế quốc Mê-đi Ba-tư – có nhiều vua trong số họ - chỉ ngốn lấy ngốn để
tiền bạc. Lời tiên tri ở đây, ấy là sẽ có vương quốc khác xuất hiện và
vương quốc đó được đánh dấu bằng bạc. Zirkstees
là một trong các vua của Đế quốc Mê-đi Ba-tư, đã thừa hưởng số bạc kếch xù từ
cha mình là Dorias. Ông
ta cũng thừa hưởng rất nhiều bạc từ các vua Ba-tư khác rồi ông ta dùng bạc ấy
chi cho cuộc chiến chống lại người Hy-lạp. Vậy, họ đã có lượng bạc rất là
nhiều.
Đế quốc Ba-by-lôn đã thành
hình vào năm 538TC. Rồi Đại Đế Si-ru xuất hiện và với Si-ru Đại Đế là Đế quốc
Mê-đi Ba-tư. Đế quốc kéo dài khoảng 200 năm, cho đến năm 330TC, khi bạn đến phần
thứ ba trong câu 39. Hãy nhìn vào đấy: "rồi một nước thứ ba, tức là đồng, sẽ cai quản
khắp đất".
Và đâu là nước ấy? Hãy trở lại câu 32. Đó là “bụng và vế bằng đồng”.
Bây
giờ bạn hạ thấp xuống một vương quốc khác bằng đồng, bụng và vế. Đây là Hy-lạp.
Làm sao chúng ta biết điều đó, vì sau Vương quốc Mê-đi Ba-tư là đế quốc Hy-lạp
dưới thời Alexander Đại Đế, là người đã nhận lãnh quyền bính ban đầu từ cha của
ông là Vua Philíp xứ Ma-xê-đoan. Vì vậy, chuyển thấp xuống Ba-by-lôn, Mê-đi
Ba-tư và Hy-lạp. Điều thú vị là Hy Lạp chuyển xuống tới vế bởi vì Đế quốc Hy-lạp
to lớn chủ yếu có hai bộ mặt chính. Và mặc dù nó được phân chia giữa bốn vị tướng
lãnh, hai trong số các tướng lãnh đó đã nắm lấy Sy-ri-a và hai vị tướng nữa đã
chiếm Ai-cập và họ trở thành hai bộ mặt của Đế Quốc Hy-lạp vĩ đại.
Bây
giờ tôi muốn bạn đế ý vương quốc này được đánh dấu bằng đồng. Đồng không có giá
trị như bạc nhưng đồng thì cứng hơn bạc. Vương quốc ấy được đánh dấu bằng đồng,
tôi nghĩ, vì một số lý do khác. Một nhà văn nói như vầy: "Tưởng tượng ra mọi điều đáng ngạc
nhiên mà người Hy-lạp đã thực hiện trên thế giới thế giới văn minh. Hãy xem sự
tương phản giữa binh lính của họ và binh lính của quân đội Ba-tư. Họ đã loại bỏ
đế quốc Mê-đi Ba-tư. Bạn có thấy một người lính của Mê-đi Ba-tư vào thời buổi họ
khống chế thế giới văn minh, anh ta sẽ như thế này đây. Đây là những gì trông
giống binh lính Mê-đi Ba-tư.
Trên đầu anh ta sẽ quấn một chiếc
khăn mềm, anh ta sẽ mặc áo dài tay và quần dài đàng hoàng. Đó là một người lính
Mê-đi Ba-tư. Nhưng khi bạn nhìn thấy một người lính Hy-lạp, anh ta đã có trên đầu
một chiếc mũ kết bằng cỏ, trên cơ thể có áo giáp bằng đồng thau. Trước mặt, anh
ta sẽ mang một cái khiên bằng đồng và hãy tin, có một thanh gươm làm từ đồng
thau. Đó là lý do tại sao các nhà văn cổ điển của những ngày xưa đề cập đến những
người Hy Lạp giống như đồng thau. Cỏ trở thành một dấu hiệu và biểu tượng của
các cuộc chinh phục của người Hy-lạp và đế quốc Hy Lạp. Vàng, tại sao chứ? Vì
Nê-bu-cát-nết-sa lo chiếm lấy vàng. Bạc, tại sao chứ? Bởi vì người Mê-đi và người
Ba-tư hối hả với bạc. Đồng, tại sao chứ? Bởi vì nó tượng trưng cho sức mạnh các
lực lượng của Alexander Đại Đế”.
Và
một lần nữa, đế quốc ấy chia thành hai bắp vế. Sy-ri-a và Ai-cập một lần nữa.
Và vẫn tách ra khi chúng ta đến với vương quốc thứ tư và sau cùng ở câu 40, hai
chân bằng sắt. Đồng thời, giờ đây tôi nói thêm rằng ở phần cuối của câu 39, nó
nói rằng vương quốc thứ ba này sẽ cai trị trên cả Đất. Hãy giữ lấy điều đó. Họ
sẽ cai trị trên cả Đất sao? Câu nói rất thú vị vì Alexander Đại đế đã ra lệnh
cho mọi người gọi ông bằng tước hiệu nầy: Vua Alexander của cả Đất. Vua Alexander của cả Đất.
Ông
ta đã cai trị - điều này đáng kinh ngạc - ông ta cai trị Châu Âu, ông ta cai trị
Ai-cập và ông ta cai trị suốt con đường dẫn đến Ấn-độ. Đã qua đời ở độ tuổi 30.
Sau cùng bạn đến với vương quốc thứ tư và đó là Rome. Làm sao bạn biết được chứ?
Bởi vì Rome nối theo Hy-lạp trong lịch sử. Và căng thẳng một lần nữa nhắm vào sức
mạnh. Đế quốc Hy-lạp chỉ kéo dài chưa tới 200 năm. Đế quốc Mê-đi Ba-tư kéo dài
cùng một khoảng thời gian ấy. Vào khoảng năm 100TC. hoặc khoảng 50 năm. Thật
khó nói chính xác nó khởi sự vào lúc nào. Rome trở thành một thế lực. Đồng thời,
Rome chưa bao giờ được nghe nói tới trước đó. Họ nổi lên bất cập để cai trị thế
giới. Và đế quốc La-mã, tin hay không tin, thậm chí còn tiến xa hơn những cuộc
chinh phục của Alexander. Đáng kinh ngạc thay.
Rome
là hai chân. Bạn biết đấy, Roma đã tồn tại trong một nhà nước chia hai, có phải
không? Đó là Đế quốc La-mã Đông phương và Đế Quốc La-mã Tây Phương. Bấy giờ
Đa-ni-ên nói - và chúng ta sẽ mau đi đến phần kết luận - rằng vương quốc thứ tư
- câu 40 - sẽ mạnh cứng giống như sắt, cứng như sắt. Đồng thời, vào thời buổi của
Đa-ni-ên, sắt được cho là thứ kim loại cứng mạnh nhất. Và Rome, không thắc mắc
chi hết, là đế quốc mạnh nhất mà thế giới từng biết đến. Ba-by-lôn kéo dài 70
năm, Mê-đi Ba-tư kéo dài khoảng 200 năm. Đế quốc Hy-lạp kéo dài khoảng 200 năm.
Đế quốc La-mã kéo dài 500 năm về phía Tây và cho đến năm 1453. Vì vậy,
Constantinople bị đánh bại ở Đông phương. Đó là một thời gian khá dài. Thậm chí
không có một đế quốc nào đi tới chỗ kết thúc. Họ rất mạnh.
Thí
dụ, ông tiếp tục nói, nó đập tan thành từng mảnh. Nó chinh phục. Ông nói rằng
nó đập vỡ mọi thứ nầy. đập vỡ tan thành từng mảnh và nó dập nát. Mọi thuật ngữ
này đề cập đến thế lực đập vỡ, nghiền nát, tan rải của Rome. Thực vậy, động từ đập
vỡ trong tiếng A-ram có nghĩa là đập nát với một cái búa. Và Luphold, học giả
Kinh Thánh nói: "Các
quân đoàn La-mã đã được ghi nhận vì khả năng nghiền nát mọi sức kháng cự với
gót chân bằng sắt". Dường như có một chút hiểu ngầm trong
chương trình của đế quốc này bất chấp luật pháp Rô-ma, các con đường và nền văn
minh của người La-mã, công tác phá hoại nặng hơn mọi sự khác vì chúng ta có động
từ kép nghiền nát và phá diệt ở phần cuối câu 40.
Đế
Quốc La-mã đến để nghiền nát và phá diệt. Đồng thời, hai chân là phần dài nhất
của pho tượng và đế quốc La-mã kéo dài nhất. Rồi khi viết về sự sụp đổ của đế
quốc La-mã, có người viết như sau:
“Đế quốc La-mã đầy dẫy thế giới. Và khi đế quốc sa vào tay của một người đơn độc,
thế giới trở thành một nhà tù an toàn và ảm đạm cho kẻ thù của mình. Kháng cự là
may rủi và nó không thể bay được". Người La-mã được cho là
đã cai trị thế giới.
Robert Culva viết: "Cách đây hai ngàn năm, Rome đã
cung ứng cho thế giới sự hiệp nhất đại đoàn kết tại Hội Quốc Liên và các tổ chức
của Liên Hợp Quốc đã tìm cách khôi phục lại trong thời buổi của chúng ta. Nhưng
có phải sự phục hưng lý tưởng của La-mã cổ đại kể từ thời của Augustus Caesar
không hề bị mất đi nét thánh khiết? Có lẽ PaxRoman, nền hòa bình theo kiểu
La-mã, sự bình an của một nhà tù có trật tự mỹ mãn với nhiều cánh cửa bằng sắt,
bằng thép, nhiều người canh giữ được đào tạo và các bức tường cao vẫn là tốt nhất
mà thế giới sẽ đạt được cho đến khi Chúa Jêsus hiện đến”.
Bạn
biết lý do tại sao người La-mã kéo dài lâu như thế chăng? Bởi vì họ cai trị bằng
một cây gậy sắt. Họ rất mạnh tay. Các quân đoàn sắt của Rôma là quyền bính và
hình ảnh sau cùng của thế giới. Bây giờ như bạn có thể thấy, quí vị ơi, Rome là
đế quốc sau cùng cấp thế giới. Bạn nói: "Chờ một phút đi, còn có nhiều thứ nữa so với điều nầy,
Rome đã trôi qua cách đây rất lâu rồi". Còn có nhiều thứ nữa
trong lời tiên tri. Chúng ta chưa đến với mấy ngón chân đâu.
Và mấy ngón chân không phải
là sắt nhưng trộn lẫn với cái gì chứ? Đất sét. Điều đó cho chúng ta biết điều
gì chứ? Bạn có biết tôi tin điều đó nói gì với chúng ta hay không? Tôi tin rằng
chúng ta sẽ nhìn thấy một sự trở lại của đế quốc La-mã cổ đại. Nếu vậy, bạn
đang đùa ư! Tôi muốn nói người ta đang loanh quanh với SPQR hầu hết trên ngực của
họ? Ý ông muốn nói gì vậy? Ông đang nói về việc gì chứ? Tôi tin chúng là mười
ngón chân so với đế quốc hồi sinh. Ông đang nói về cái gì chứ? Ông muốn nói gì
chứ? Đây là những gì tôi muốn nói.
Gần
đây bạn có nhìn xem châu Âu không? Châu Âu đã từng chiếm lấy lãnh thổ của Đế quốc
La-mã đã tự phục hưng trong liên minh giờ đây được biết đến là Cộng đồng kinh tế
châu Âu. Khối thị trường chung châu Âu. Theo như tôi biết hiện nay, có mười quốc
gia thành viên. Thú vị không!?! Tôi nghe trên đài phát thanh. KFWB vào ngày 27
tháng 12 năm 1971. Nhưng vào ngày 27 tháng 12 năm 1971, đài KFWB tường trình,
và tôi đã nghe tường trình ấy, sự kiện lớn nhất phải nhìn đến vào năm 1972 là sự
dấy lên khối thị trường chung Châu Âu, nó sẽ trở thành quyền lực kinh tế lớn nhất
trên thế giới. Paul Steen, lúc bấy giờ là Chủ tịch, đã nói: “Đừng phạm sai lầm, chúng tôi không
phải là nhóm kinh tế đâu, mà chúng tôi chuyên về chính trị”.
Hãy nghe điều nầy. Viện tra cứu L.A., ngày 29 tháng 10 năm 1971, đã nói: "Quyết định của Anh Quốc gia nhập
khối thị trường chung đã đưa Tây Âu lên ngưỡng cửa liên minh mạnh nhất kể từ
khi các nước bị ràng buộc với nhau như một phần của Đế quốc La Mã cách đây 15
thế kỷ”.
Lịch
sử của thế giới đang lên đến đỉnh điểm, chẳng có thắc mắc gì về việc ấy. Nếu bạn
muốn biết nó sẽ kết thúc thế nào, hãy trở lại vào tuần tới. Và tôi sẽ nói cho bạn
biết, hãy nghe đi. Liệu nước Mỹ có thể tồn tại không? Họ có thể tồn tại không?
Chúng ta đang thua thiệt – hãy nghe đi - chúng ta đang thua thiệt rồi trước sự
xuống cấp của nhiều người, chết chóc, không thể tránh khỏi, không thể né khỏi,
không thể thay đổi được. Dân sự của chúng ta đang sống ích kỷ và tình trạng ích
kỷ của họ sẽ tự hủy diệt.
Alexander
Tyler đã nói về việc ấy: "Từ
nô lệ đến đức tin thuộc linh, từ đức tin thuộc linh tới lòng can đảm lớn lao, từ
lòng dũng cảm đến tự do, từ tự do đến dư thừa, từ dư thừa đến ích kỷ. Từ ích kỷ
đến tự mãn, từ tự mãn đến thờ ơ. Chúng ta đang ở đâu đó ngay lúc bây giờ từ sự
thờ ơ đến phụ thuộc. Và chúng ta đang thắc mắc về việc phụ thuộc trở lại với
tình trạng nô lệ”. Và một người nào khác sẽ chỗi dậy từ đống tro
bụi của chúng ta nếu Chúa Jêsus bắt đầu chu kỳ này một lần nữa. Sự việc sẽ kết
thúc như thế nào? Việc đó dành cho tuần tới. Chúng ta hãy cầu nguyện.
Lạy Cha, một lần nữa cảm tạ Ngài tối nay vì sự thật hấp dẫn
mà Lời của Ngài rỏ ra. Xin chúc phước cho từng tấm lòng ở đây. Lạy Chúa, chúng
con nghĩ đến lời lẽ của Phierơ phước hạnh, ông đã nói: "Vì
mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn
ở của mình là dường nào”. Nếu chúng ta biết rằng lịch sử đang tới hồi cùng kiệt,
hình ảnh của con người đang thống trị trên thế giới giống như một hình ảnh bấp
bênh trên hai bàn chân bằng đất sét, nặng nề, sẽ bị nghiền nát và đập vỡ bằng hòn
đá không đục đẻo bằng tay người ta, thổi nó thành tro bụi bay đi. Ôi Chúa, nguyện
chúng con không là một phần trong hệ thống đó. Chúng con không muốn mình là một
phần của những gì sẽ thất bại và chết đi. Chúng con muốn trở thành một chi thể
của vương quốc sống động của Đức Chúa Jêsus Christ. Và vì vậy, lạy Chúa, chúng con
sẽ cầu thay cho những người tối nay chưa nhìn biết Đấng Christ. Để họ có thể bước
ra khỏi tiến trình băng hoại của tội lỗi, ở đó vàng của con người đang bị đổi
thành to bụi. Và bước vào vương quốc của Đức Chúa Trời, ở đó Ngài lấy bụi đất của
chúng con rồi biến nó thành ra vàng. Lạy Cha, hãy đụng đến từng tấm lòng, cùng với
cách chúng con sẽ đáp ứng. Xin ban cho chúng con ý thức về sự khẩn cấp để đến với
đoàn dân đông xung quanh chúng con, họ đang bị mắc kẹt trong chu kỳ khủng khiếp
này. Nguyện chúng con có khả năng chạm đến nhiều đời sống cho Đấng Christ.
Trong danh Ngài, chúng con cầu nguyện. Amen.

Nhận xét
Đăng nhận xét